Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

Bài thuốc cho bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản

Dung dịch axit này có thể gây kích ứng niêm mạc thực quản của người bệnh. Rất nhiều người có triệu chứng của trào ngược bao tử thực quản với các mức độ khác nhau. Từ mức độ nhẹ xảy ra một lần một tuần, hoặc trào ngược axit nhàng nhàng đến nặng xảy ra chí ít ≥từ 2 lần tuần.

Các triệu chứng thường gặp là

- Ợ nóng : cơn nóng rát ở ngực, bắt đầu từ phía sau xương ức và chuyển di về phía cổ, họng. Ợ nóng nhiều hơn khi cúi gập người và khi nằm.

- Cảm giác thức ăn hoặc nước trào ngược lên cổ họng hoặc miệng, đặc biệt là khi cúi hoặc nằm xuống. Điều này có thể để lại vị đắng (do trào ngược dịch mật) hoặc vị chua (do trào ngược dịch vị) trong miệng.

- Một số triệu chứng ít phổ biến hơn, bao gồm đau họng dai dẳng, khàn tiếng, ho mạn tính, khó nuốt hoặc nuốt đau, hen, đau ngực không giải thích được, hơi thở hôi, cảm giác một khối u trong cổ họng.

duyên do gây trào ngược bao tử - thực quản: Có các căn do từ thực quản, từ dạ dày và các ảnh hưởng từ cơ quan khác trong thân.

nguyên cớ do thực quản: Suy cơ thắt dưới thực quản: Các nhân tố gây suy cơ thắt thực quản: Rối loạn nhu động thực quản, giảm tiết nước miếng (hút thuốc lá...), các thuốc kích thích thụ cảm, ức chế , kháng tiết choline, theophylline, các chất cafein, rượu, thuốc lá, chocolate hay thức ăn nhiều mỡ; thoát vị hoành.

nguyên do tại dạ dày: ứ lại thức ăn tại dạ dày (viêm bao tử, ung thư dạ dày, hẹp môn vị... làm cho các chất trong bao tử chậm lưu thông xuống ruột từ đó làm tăng sức ép trong dạ dày). áp lực ổ bụng tăng đột ngột: Khi ho, hắt hơi hoặc gắng công cũng có thể là căn do trào ngược bao tử thực quản.

Một số nguyên cớ khác: Stress làm tăng tiết cortisol (cortisol làm tăng axit trong dạ dày), stress làm rối loạn nhu động thực quản. nếp ăn uống không lành mạnh: Ăn quá no, ăn đêm, ăn hoa quả có tính axit (cam, chanh...) khi đói, ăn đồ ăn nhanh, chiên rán...; béo phì; có thai; lạm dụng thuốc kháng sinh…

Những yếu tố bẩm sinh: Cơ thắt thực quản dưới yếu, bệnh nhân bị sa dạ dày, hay có thoát vị cơ hoành, chấn thương tai nạn... Ở trẻ nhỏ là sinh lý thường nhật với triệu chứng tiêu biểu là nôn trớ.

Bài thuốc cho bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản

Theo y khoa cổ truyền, bệnh trào ngược dạ dày - thực quản có các triệu chứng thuộc chứng vị quản thống. Bệnh sinh do 2 nhóm duyên cớ:

- Ngoại nhân: Hàn, thấp tà. Hàn tà, ăn thức ăn sống lạnh làm cho vị bị hàn, gây đau thường thấy biểu đạt tỳ vị hư hàn.

- Nội nhân: Ẩm thực thất điều (ăn đồ sống lạnh, ăn uống bất thường...); tình - chí uất kết (lo âu, nghĩ suy, tức giận thái quá kéo dài). Ăn uống bất thường, ăn nhiều thức béo ngọt làm thấp nhiệt sinh ra ở vị hoặc thức ăn không tiêu hóa được tích lại gây đau, diễn tả đau do nhiệt hoặc thực tích, trùng tích. Hàn tà, hoặc thấp nhiệt, hoặc ăn uống bất thường lâu ngày làm ngăn cản công năng của tỳ vị, can mộc tương thừa mà sinh bệnh, lâu ngày khí huyết suy kém đưa đến tỳ vị hư hàn; Do tình chí thất điều (tức giận, buồn bực thái quá kéo dài) làm việc sơ tiết của can khí bị rối loạn. Can khí hoành nghịch làm vị hoặc trệ hoặc nghịch không thông; gây ra đau biểu đạt can vị bất hòa hoặc can khí phạm vị.

Như vậy dù nảy sinh là căn do nào, cũng dẫn đến vị, can, tỳ bị tổn thương. Các tạng này ảnh hưởng lên nhau phối hợp với nguyên do gây bệnh và thể trạng - cơ địa của người bệnh:

Các bệnh cảnh lâm sàng và điều trị

1. Đau thượng vị do hàn tà: Cảm nhiễm ngoại hàn hoặc ăn thức ăn sống lạnh.

Pháp trị: Tán hàn chỉ thống.

Bài thuốc: Lương phụ hoàn (cao lương khương, hương phụ); bán hạ hậu phác thang (bán hạ, hậu phác, tía tô, phục linh, sinh khương).

2. Đau thượng vị do thức ăn đình trệ:

Pháp trị: Tiêu thực đạo trệ.

Bài thuốc: Tiêu thực thang (vỏ bối, trần bì, la bặc tử, chỉ thực, vỏ rụt).

3. Can khí phạm vị (can vị bất hòa).

Khí uất:

Pháp trị: Sơ can lý khí.

Bài thuốc: Điều khí thang (hương phụ, thanh bì, vỏ rụt, chỉ xác, ô dược, trần bì); bình vị tán (thương truật; trần bì, hậu phác; cam thảo); nam sài hồ sơ can tán (nam sài hồ, thược dược, chỉ xác, hương phụ, cam thảo, xuyên khung).

Hỏa uất:

Pháp trị: Sơ can, tiết nhiệt, chỉ thống.

Bài thuốc: Tiêu dao tán gia vị (bắc sài hồ, đương quy, bạch truật, bạch thược, bạch linh, chích thảo, gia thêm uất kim, hương phụ); hoàng cầm thang gia giảm (hoàng cầm, thược dược, cam thảo, đại táo).

Tỳ vị hư hàn:

Pháp trị: Ôn trung tán hàn, chỉ thống.

Bài thuốc: Hương sa lục quân (đảng sâm, bạch truật, bạch linh; cam thảo; trần bì; bán hạ; mộc hương; sa nhân); huỳnh kỳ kiến trung thang (hoàng kỳ, sinh khương, cam thảo; hương phụ, quế chi, bạch thược, đại táo, cao lương khương, di đường).

Một số bài thuốc nam thường dùng

- Bài thuốc ta: Hương phụ (cỏ cú): 08g; cúc tần 8g; thủy xương bồ (bồ bồ) 8g; mã đề 12g; nghệ vàng 6g. Trên lâm sàng có tác dụng làm giảm cơn đau nóng rát ợ chua.

- Mai mực 40g; cam thảo 24g; bối mẫu 12g.

- Đởm kim hoàn: Bột nghệ 32%; bột trần bì 32%; bột mật heo 32%; thỏ ty tử 4%.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét